THPT Nguyễn Khuyến

Bù Nho - Bù Gia mập - Bình Phước
 
Trang ChínhCalendarGalleryTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 Phân tích "Câu cá mùa thu" (Thu điếu-Nguyễn Khuyến)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp




Join date : 01/01/1970

Bài gửiTiêu đề: Phân tích "Câu cá mùa thu" (Thu điếu-Nguyễn Khuyến)   1/10/2012, 20:41

Mùa thu là đề tài quen thuộc
của thi ca . Thơ viết về mùa thu
của văn học Trung đại Việt
Nam thường miêu tả cảnh
đẹp vắng vẻ , úa tàn và u
buồn . Cảnh thu được ghi lại một cách ước lệ tượng trưng
với những nét chấm phá ,
chớp lấy cái hồn của tạo vật .
Thu điếu của Nguyễn Khuyến
cũng mang nét thi pháp ấy .
Nhưng Nguyễn Khuyến được mệnh danh là nhà thơ của
làng quê Việt Nam . Gần suốt
đời mình , ông gắn bó với thôn
quê , hòa hợp và thấu hiểu
mảnh đất quê nhà . Thế nên ,
cảnh vật làng quê trong thơ ông hiện lên rất chân thực ,
giản dị , tinh tế . Đọc Thu điếu ,
ta bắt gặp một bức tranh thu
đặc trưng của vùng chiêm
trũng Bắc bộ , quê hương của
nhà thơ . Đấy chính là nét mới mẻ của tác phẩm so với thi
pháp truyền thống của văn học
Trung đại Việt Nam .
Thu điếu viết bằng chữ Nôm ,
làm theo thể thất ngôn bát cú
Đường luật . Cảnh thu được miêu tả trong hầu hết 8 câu
thơ , hình ảnh con người chỉ
xuất hiện trực tiếp ở hai câu
cuối bài . Cảnh trong bài vẫn
là trời nước , gió , trúc – những
thi liệu quen thuộc nhưng hồn thơ thì đã vượt ra khỏi khuôn
sáo thi tứ cổ điển .
Hình ảnh đầu tiên được tác
giả miêu tả là “ ao thu” . Từ “
lạnh lẽo” đặc tả khí lạnh của
ao nước mùa thu , dường như cái lạnh ấy thấm sâu vào da
thịt con người . Tính từ “trong
veo” đã tuyệt đối hóa độ trong
của nước , đồng thời còn gợi
ra độ thanh sạch , sự bất
động , tĩnh lặng của mặt ao . Hai âm “eo” được gieo trong
một câu khiến cho cảm giác
về cái lạnh và sự ngưng đọng
của không gian càng trở nên
tuyệt đối , đồng thời còn gợi ra
không gian nhỏ hẹp của chiếc ao .
Trên nền cảnh thu ấy xuất hiện
một chiếc thuyền câu lẻ loi ,
đơn chiếc , bé nhỏ . Số từ chỉ
số ít “một chiếc” kết hợp với từ
láy “tẻo teo” khiến cho chiếc thuyền càng nhỏ bé hơn , như
co lại thành một nét chấm trên
nền ao cũng bé xíu và trong
trong tận đáy .
Hai câu đề đã vẽ nên cảnh
sắc rất riêng biệt , mộc mạc , đơn sơ của mùa thu Bắc bộ
với những nét đặc trưng nhất
của khí thu , chất thu là cái
lạnh và sự tĩnh lặng .
Mùa thu tiếp tục hiện lên với
hình ảnh “sóng biếc” , “lá vàng” . Cảnh vận động một
cách khẽ khàng . Tác giả đã
rất nhạy cảm , tinh tế khi chớp
được những biến động tinh vi
của tạo vật . Đó là sự chuyển
động “ hơi gợn tí” của sóng , là sự đưa nhẹ , khẽ khàng của
chiếc lá vàng , là sự mong
manh uốn lượn của hơi nước
mờ ảo trên mặt ao .
Hai câu thơ đối nhau rất
chỉnh , các sự vật có mối liên hệ chặt chẽ với nhau , gió thổi
làm sóng gợn , làm lá rơi .
Các tính từ , trạng từ “biếc” ,
‘tí’ , “vàng”, “khẽ” ,”vèo” được
sử dụng một cách hợp lí , giàu
chất tạo hình , vừa tạo ra bức tranh màu sắc thanh nhã , có
xanh có vàng , vừa gợi được
sự uyển chuyển , sinh động
của tạo vật . Cảnh được miêu
tả trong hai câu thực , mặc dù
là động , nhưng vì động khẽ khàng quá nên thực chất là lấy
động để tả cái tĩnh lặng của
mùa thu trong không gian của
một chiếc ao quê nhà .
Không gian cảnh vật trong hai
câu luận không chỉ dừng lại ở bề mặt chiếc ao mà còn mở
rộng thêm chiều cao , chiều
sâu .
Chiều cao được cụ thể bằng
sự “lơ lửng” của tầng mây và
độ thăm thẳm của da trời xanh ngắt . Màu da trời mùa thu
dường như có ám ảnh sâu
đậm trong tâm hồn Nguyễn
Khuyến nên trong các bài thơ
thu , ông thường nhắc tới : “
Trời thu xanh ngắt mấy từng cao” (Thu vịnh ) hay “ Da trời ai
nhuộm mà xanh ngắt” ( Thu
ẩm ) . Bởi vậy , màu xanh ngắt
của da trời không chỉ đơn giản
là một sắc màu khách quan
đặc trưng cảu trời thu mà có lẽ còn chính là tâm trạng nhiều
ẩn ức , là chiều sâu tâm hồn
đầy trăn trở của thi nhân .
Chiều sâu của không gian
được cụ thể bằng độ “ quanh
co” uốn lượn của bờ trúc . Không gian trong hai câu luận
đậm dặc một màu xanh , màu
xanh bao trùm cả trên cao và
chiều rộng . Cảnh vật thoáng
đãng và yên tĩnh . Nguyên từ
“vắng” đã nói rõ sự tĩnh lặng rồi nhưng “vắng teo” thì có
nghĩa là cảnh vắng tanh vắng
ngắt , không chút cử động ,
không chút âm thanh , không
một bóng người .
Bởi thế , hai câu thơ gợi ra sự trống vắng , nỗi cô đơn trong
lòng người .
Hình ảnh con người xuất hiện
trực tiếp với tư thế ngồi bó gối ,
trong trạng thái trầm tư mặc
tưởng . Nhà thơ ngồi câu cá mà chẳng chú tâm đến việc
câu , bởi vậy mới giật mình
trước tiếng cá “ đớp động dưới
chân bèo” . Không gian phải
yên tĩnh lắm, tâm hồn nhà thơ
phải trong trẻo lắm thì mới nghe rõ âm thanh nhỏ nhẹ
như vậy .
Từ “cá đâu” là cách hỏi vừa
tạo nên sự mơ hồ trong không
gian vừa gợi ra sự ngỡ ngàng
của lòng người . Nhà thơ dường như mất cảm giác về
không gian thực tại mà chìm
đắm trong không gian suy
tưởng nên không thể xác định
rõ hướng gây ra tiếng động
mặc dù đang ngồi trong một chiếc ao rất nhỏ .
Nhà thơ câu cá mà chẳng
phải để bắt cá . Câu chỉ là cái
cớ để tìm sự thư thái trong
tâm hồn . Trong lúc câu , thi
nhân đã thâu tóm vào lòng những vẻ đẹp tinh diệu của
đường nét , màu sắc , hình
khối , sự vận động tinh tế ,
trong sáng của cảnh vật mùa
thu . Cảnh thu tuy đẹp mà
buồn , buồn vì quá quạnh quẽ , vắng lặng , buồn vì người
ngắm cảnh cũng đang chất
chứa nỗi niềm thế sự của kẻ
sĩ trước cảnh vong quốc mà
thân lại nhàn nhã .
Bài thơ Thu điếu không những thể hiện được cái hồn của
cảnh thu mà còn đặc tả được
nét đẹp mộc mạc giản dị của
nông thôn đồng bằng Bắc bộ
xưa . Bằng bút pháp tả cảnh
ngụ tình , Nguyễn Khuyến đã khơi gợi trong lòng người đọc
những xúc cảm chân thành ,
trong sáng , tha thiết về cảnh
sắc làng quê. Qua bài thơ , ta
hiểu thêm về tấm lòng nặng
tình non nước và tài thơ Nôm độc đáo của thi nhân .
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Phân tích "Câu cá mùa thu" (Thu điếu-Nguyễn Khuyến)
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
THPT Nguyễn Khuyến  :: phòng học tập - tin giáo dục :: khoa học xả hội-
Chuyển đến